Lãi suất lịch sử là gì?

Trong hai thế kỷ qua, lãi suất đã được thiết lập khác nhau bởi các chính phủ quốc gia hoặc các ngân hàng trung ương. Ví dụ, lãi suất quỹ liên bang của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã thay đổi trong khoảng từ 0,25% tới 19% trong thời gian từ năm 1954 đến năm 2008

0
232
Rate this post

Lãi suất lịch sử

Trong hai thế kỷ qua, lãi suất đã được thiết lập khác nhau bởi các chính phủ quốc gia hoặc các ngân hàng trung ương. Ví dụ, lãi suất quỹ liên bang của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã thay đổi trong khoảng từ 0,25% tới 19% trong thời gian từ năm 1954 đến năm 2008, trong khi lãi suất cơ bản của Ngân hàng Anh thay đổi trong khoảng 0,5% tới 15% trong giai đoạn 1989-2009,[8][9] và Đức đã trải qua các lãi suất từ gần 90% trong thập niên 1920 xuống còn khoảng 2% trong thập niên 2000. Trong nỗ lực giải quyết siêu lạm phát leo thang trong năm 2007, Ngân hàng Trung ương Zimbabwe tăng lãi suất cho vay tới 800%.

Danh sách ngân hàng ở Việt Nam
Nguồn internet

Có thể trước khi có các thị trường vốn hiện đại, đã có một số tài khoản mà các khoản tiền gửi tiết kiệm có thể đạt được một hoàn vốn hàng năm ít nhất là 25% và lên đến cao là 50%.[14]Các mức lãi suất trên các khoản tín dụng sơ cấp trong cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 đã cao hơn nhiều so với đã được ghi nhận – cao hơn các đỉnh trước của Mỹ kể từ năm 1800, hơn các đỉnh của Anh từ năm 1700, hoặc hơn đỉnh Hà Lan kể từ năm 1600, “kể từ khi thị trường vốn hiện đại ra đời, chưa có bao giờ lãi suất dài hạn cao” như trong giai đoạn này.[13]

Lãi suất tại Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, thẩm quyền quyết định lãi suất được phân chia giữa Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang (Hội đồng) và Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC). Hội đồng quyết định thay đổi tỷ lệ chiết khấu sau khi các kiến nghị được gửi bởi một hoặc nhiều Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. FOMC quyết định về các hoạt động thị trường mở, bao gồm các mức mong muốn của tiền ngân hàng trung ương hoặc lãi suất thị trường các quỹ liên bang được mong muốn. Hiện nay, lãi suất ở Mỹ đang là hoặc gần các mức thấp lịch sử.

Các lý do cho thay đổi lãi suất

  • Lợi ích ngắn hạn chính trị: Giảm lãi suất có thể cung cấp cho nền kinh tế một tăng trưởng ngắn hạn. Trong các điều kiện bình thường, hầu hết các nhà kinh tế nghĩ rằng cắt giảm lãi suất sẽ chỉ cung cấp một lợi ích ngắn hạn trong hoạt động kinh tế, sẽ nhanh chóng bị triệt tiêu bởi lạm phát. Sự tăng trưởng nhanh chóng có thể ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử. Hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ các ngân hàng trung ương độc lập để hạn chế ảnh hưởng của chính trị tới lãi suất.
  • Tiêu thụ bị hoãn lại: Khi tiền được vay mượn thì người cho vay trì hoãn việc chi tiêu tiền vào các hàng hóa tiêu dùng. Theo thuyết ưu tiên thời gian thì mọi người thích hàng hóa hiện nay hơn là hàng hoá về sau, vì thế trong một thị trường tự do sẽ có một lãi suất dương.
  • Kỳ vọng lạm phát: Hầu hết các nền kinh tế nói chung biểu lộ sự lạm phát, có nghĩa là một số lượng tiền nhất định mua được ít hàng hóa hơn trong tương lai so với nó mua được trong hiện tại. Người vay cần phải bù đắp cho người cho vay vì việc này.
  • Đầu tư thay thế: Người cho vay có thể lựa chọn việc sử dụng tiền của mình trong các đầu tư khác nhau. Nếu anh ta chọn một kiểu đầu tư, anh ta bỏ qua các hoàn vốn từ tất cả những đầu tư khác. Các đầu tư khác nhau cạnh tranh thực sự để giành nguồn tiền bạc.
  • Rủi ro đầu tư: Luôn luôn có một rủi ro là người vay sẽ phá sản, bỏ trốn, chết, hoặc vỡ nợ khoản vay. Điều này có nghĩa là một người cho vay thường tính một phí bù đắp rủi ro để đảm bảo rằng, xuyên suốt các đầu tư của mình, anh ta được bồi thường cho những khoản đầu tư thất bại.
  • Ưu tiên thanh khoản: Mọi người đều muốn các nguồn lực sẵn có của họ dưới hình thức ngay lập tức có thể trao đổi, chứ không phải dưới hình thức cần có thời gian để thực hiện.
  • Thuế: Vì một số thu nhập từ tiền lãi có thể phải chịu thuế, người cho vay có thể đòi hỏi một lãi suất cao hơn để bù đắp cho sự mất mát này.

Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

Lãi suất danh nghĩa là số lượng, theo tỷ lệ phần trăm, của tiền lãi phải trả.

Ví dụ, giả sử một hộ gia đình gửi tiền 100 USD với một ngân hàng trong vòng 1 năm và họ nhận được tiền lãi 10 USD. Vào cuối năm số dư của họ là 110 USD. Trong trường hợp này, lãi suất danh nghĩa là 10% mỗi năm.

Lãi suất thực tế, đo lường sức mua của biên lai tiền lãi, được tính bằng cách điều chỉnh lãi suất danh nghĩa được tính để đưa lạm phát vào hạch toán. (Xem Thực tế so với danh nghĩa trong kinh tế học.)

Nếu lạm phát trong nền kinh tế đã là 10% trong năm, thì 110 USD trong tài khoản vào cuối năm mua số lượng tương tự như 100 USD đã làm một năm trước. Lãi suất thực tế, trong trường hợp này, là con số không.

Sau thực tế này, lãi suất thực tế ‘được nhận’, đã thực sự xảy ra, được đưa ra bởi phương trình Phi-sơ, và là

{\displaystyle r={\frac {1+i}{1+p}}-1\,\!}

ở đây p = tỷ lệ lạm phát thực qua một năm. Xấp xỉ tuyến tính

{\displaystyle r\approx i-p\,\!}

được sử dụng rộng rãi.

Hoàn vốn thực tế dự kiến trên một đầu tư, trước khi nó được thực hiện, là:

{\displaystyle i_{r}=i_{n}-p_{e}\,\!}

ở đây:

{\displaystyle i_{r}\,\!} = lãi suất thực tế
{\displaystyle i_{n}\,\!} = lãi suất danh nghĩa
{\displaystyle p_{e}\,\!} = lạm phát dự kiến hay dự phóng qua năm này

Lãi xuất lịch sử

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here