Quản trị rủi ro khi kinh doanh ngân hàng

0
561
Rate this post

Quản trị rủi ro kinh doanh ngân hàng

Quản trị rủi ro kinh doanh ngân hàng thương mại

Chính sách quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM chưa đưa ra tuyên bố rõ ràng từ HÐQT về khẩu vị rủi ro của ngân hàng.

Cơ chế quản trị rủi ro tốt phải đem lại kết quả là rủi ro được quản lý trong phạm vi khẩu vị rủi ro mà ngân hàng hiểu rõ và chấp nhận, đảm bảo không có những tổn thất bất ngờ ngoài dự kiến đối với hoạt động kinh doanh. Khẩu vị rủi ro phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định, trong giới hạn đó ngân hàng có khả năng và sự sẵn sàng (có chuẩn bị trước) để hứng chịu, khắc phục và vượt qua các rủi ro (tổn thất) tác nghiệp. Khẩu vị rủi ro phải xác định rõ:

– Các loại rủi ro mà NH có thể chấp nhận tới một mức độ nào đó khi đưa ra một sản phẩm/dịch vụ/quy trình nghiệp vụ mới, chẳng hạn như lỗi, sai sót trong giai đoạn đầu áp dụng và thực hiện một quy trình nghiệp vụ mới; lợi nhuận hoặc doanh số thấp trong giai đoạn đầu sản phẩm dịch vụ xâm nhập thị trường…

– Các loại rủi ro mà NH có thể chấp nhận vì mục tiêu cạnh tranh, như giá thành dịch vụ thấp, không thu phí đối với một sản phẩm dịch vụ cụ thể hay một khách hàng doanh nghiệp lớn…HÐQT, Ban điều hành chưa đầu tư tương xứng nguồn lực và giao thẩm quyền tương xứng cho bộ phận này, chưa thiết lập cơ chế thông tin tương xứng (nhiều vụ việc RR nổi cộm phát sinh và được xử lý kín – bộ phận QTRR không có thông tin và không được tham gia), chưa quan tâm nhiều đến các báo cáo và các thông tin cảnh báo từ phía bộ phận QTRR, chưa có tuyên bố rõ ràng yêu cầu các đơn vị kinh doanh cởi mở chia sẻ về rủi ro và phối hợp với bộ phận QTRR tìm ra cách kiểm soát phù hợp. Do đó, sự phối hợp còn rất yếu và không hiệu quả.

– Một số NHTM chưa phân công 1 thành viên Ban điều hành phụ trách QTRR, chưa thành lập bộ phận QTRR chuyên trách độc lập. Tại một số NHTM đã có thành viên ban điều hành phụ trách quản trị rủi ro như Vietinbank, BIDV, MB, VIB… nhưng đa phần các thành viên này vẫn có sự tham gia quản lý nghiệp vụ hoặc chưa tập trung quản lý toàn bộ các loại rủi ro, chưa hoạt động đúng nghĩa là giám đốc phụ trách quản trị rủi ro toàn diện và độc lập.

– Bộ phận chuyên trách QTRR độc lập tồn tại nhưng chưa có những trao đổi thảo luận cần thiết với các đơn vị kinh doanh, chưa truyền bá hiệu quả về văn hóa QTRR và do đó thúc đẩy các đơn vị kinh doanh chủ động tham gia vào quá trình QTRR. Chưa có những báo cáo QTRR hiệu quả và kịp thời đệ trình lên HĐQT và Ban điều hành

– Các đơn vị kinh doanh chưa hiểu rõ trách nhiệm QTRR của bản thân đơn vị, chưa chủ động nhận diện đánh giá và quản lý rủi ro.

Do những hạn chế trên, quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam chưa hoạt động thực sự đúng nghĩa và chưa làm đúng chức năng trong quá trình quản trị ngân hàng. Những vi phạm gần đây trong quản lý kinh tế và quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn, tổng công ty lớn, một số NHTM cổ phần và các công ty con đã và đang khiến hàng loạt các lãnh đạo cấp cao của các tổ chức này bị khởi tố, bắt giam, truy nã… Tình trạng này đang giấy lên hồi chuông cảnh tỉnh về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có một số NHTM, không chỉ ảnh hưởng đến chính các tổ chức này mà còn dẫn theo nhiều hệ lụy cho cả nền kinh tế xã hội Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp dân cư.

Bởi vậy, cơ chế quản trị doanh nghiệp lành mạnh cần được xây dựng và thiết lập ở tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là tại các NHTM vốn là huyết mạch của nền kinh tế, nhằm thúc đẩy sự cân bằng rủi ro – lợi nhuận và đạo đức trong kinh doanh, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm đối với “sức khoẻ”của chính NHTM và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Trong đó, yếu tố cốt lõi là hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả. Mọi rủi ro khác của NHTM có thể phát sinh từ nguồn gốc sâu xa là rủi ro hoạt động. Bởi vậy, tăng cường QTRR tại các NHTM là yêu cầu cần thiết, cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình quản trị NHTM, duy trì sự phát triển ổn định và bền vững của NHTM nói riêng, thị trường tài chính Việt Nam nói chung.

Kinh nghiệm về quản trị rủi ro tín dụng tại ANZ – Australia

Khung quản trị rủi ro

Tổng kết trong 15 năm liên tục cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm 43% tổng số rủi ro tại ANZ. Quan điểm chung của các nhà quản lý NH, quản trị RRTD là yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu của hoạt động cho vay: Tăng trưởng tốt với mức lợi nhuận tương ứng. Vì vậy, ANZ có một khung quản trị rủi ro hợp lý với cách tiếp cận có cơ cấu và nguyên tắc chặt chẽ để đạt được mục tiêu tăng trưởng và lợi nhuận này. …

Đo lường rủi ro ở ANZ

Phương pháp sử dụng hệ thống chuyên gia: Phương pháp sử dụng hệ thống chuyên gia là phương pháp đo lường rủi ro tín dụng truyền thống mà ANZ đã áp dụng phổ biến. Trong hệ thống này các cán bộ tín dụng có quyền tự đưa ra quyết định tín dụng đối với khách hàng dựa trên kinh nghiệm và các dữ liệu lịch sử về khách hàng.

 Phương pháp tính mức bù rủi ro:

ANZ đòi hỏi mức bù rủi ro là tỉ lệ lợi tức bắt buộc thêm vào để bồi thường rủi ro cao mà NH phải chịu khi cho vay. Các khoản cho vay có mức rủi ro cao sẽ có lãi suất hơn để bồi thường mức rủi ro cao. Ví dụ ở ANZ, có một khoảng cách giữa mức lãi suất mà ANZ áp dụng cho tổ chức và các khoản vay trả góp so với lãi suất tín phiếu kho bạc và có 1 khoảng cách giữa cho vay trả góp hạng nhất hạng hai mà ANZ đưa ra. Ví dụ như lợi tức của trái phiếu Úc năm 2007 tăng từ 6,1% lên 6,5%, lãi suất trả góp tiêu chuẩn ANZ áp dụng là từ 6,5% đến 7,9%, ANZ áp dụng các khoản cho vay thứ cấp lãi suất cao hơn các khoản cho vay thông thường.

 Phương pháp đo lường tín dụng nội bộ:

 ANZ áp dụng xác suất không trả được nợ như là một tiêu chí chủ chốt để đánh giá độ tin cậy của người vay. Tiêu chuẩn này được thực hiện bởi quá trình xếp hạng tín dụng của ANZ thể hiện qua hệ thống xếp hạng nội bộ đối với khách hàng. Cơ sở dữ liệu này được hình thành dựa trên các số liệu về số liệu trong quá khứ của khách hàng bao gồm: các khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng 1 năm của khách hàng, ngân hàng căn cứ vào số liệu dư nợ trong vòng 5 năm trước đó.

 Phương pháp RAROC: RAROC thực chất là một phương pháp định lượng, đo lường mức độ sinh lời có tính dẫn đến yếu tố rủi ro. RAROC không đồng nhất với quản trị rủi ro, thay vì thế RAROC là một phần, hay nói đúng hơn là một trong nhiều công cụ mà các ngân hàng hiện đại đang áp dụng trong quản trị rủi ro. Xuất phát từ thống kê xác xuất, nên quan niệm của RAROC về rủi ro khác với quan niệm thông thường. Chẳng hạn, theo quan niệm thông thường, rủi ro rín dụng là khả năng khách hàng không trả được nợ như cam kết, còn theo RAROC, rủi ro tín dụng là mức độ biến động của thu nhập ròng (lợi nhuận) gây ra bởi sự biến động về tổn thất trong tín dụng.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here